|
 Dừa Dứa-Giải nhất Hội thi trái cây ngon an toàn của tỉnh năm 2005 Bến tre là
một trong những tỉnh có diện tích dừa cao nhất Việt Nam, khoảng 36.827 ha(2005).
Từ lâu đời sống của 70% người dân Bến Tre luôn gắn bó với cây dừa, trong thời
gian qua nhất là trong năm 2000 hiệu quả kinh tế của cây dừa rất thấp đã làm đời
sống của những người trồng dừa hết sức khó khăn, hiện tượng phá bỏ vườn dừa
chuyển sang trồng các cây ăn trái khác xuất hiện khắp nơi trong tỉnh. Trong thời
gian gần đây hiệu quả thu nhập từ dừa có những tín hiệu khả quan, giá bán dừa
trái bình quân khoảng 2.000 đồng/trái, nhưng nhìn trên bình diện chung hiệu quả
này vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố chưa thật sự vững chắc.
Để đánh giá đúng mức thực trạng hiệu quả kinh tế -
xã hội của cây dừa từ đó hoạch định chính sách đầu tư phát triển hợp lý về
giống, cây trồng, chăm sóc, thu hoạch và chế biến, từng bước nâng cao hiệu quả
kinh tế của cây dừa trong tiến trình thực hiện Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
Nông nghiệp nông thôn, Năm 2003, Sở công nghiệp Bến Tre triển khai đề tài: “Đánh
giá hiện trạng và tiềm năng cây dừa trong xu thế phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh Bến Tre”. Thông qua điều tra thực tế tình hình trồng và chế biến ở các hộ
gia đình, các doanh nghiệp và nguồn thông tin của Sở Nông Nghiệp, Sở Công nghiệp
Bến Tre và các Sở Công nghiệp Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cà Mau, Khánh
Hoà, Thanh Hóa, Bình Định, Phú Yên và các nguồn thông tin khác để đánh giá hiện
trạng sản xuất, hiệu quả kinh tế của cây dừa Bến Tre.
Ban quản lý dự án đã chọn 1.090 mẫu để điều tra chọn
mẫu điển hình suy rộng: 500 mẫu điều tra tình hình trồng, chăm sóc và thu hoạch
dừa của các nông hộ trong tỉnh; 340 mẫu điều tra tình hình trồng và chăm sóc dừa
ở các tỉnh: Tiền Giang, Trà Vinh, Cà Mau, Khánh Hòa, Bình Định, Phú Yên; 150 mẫu
điều tra tình hình trồng và chế biến điều, tiêu ở Bình Phước và Đaklak; 100 mẫu
đều tra tình hình chế biến, tiêu thụ dừa trong và ngoài tỉnh nhằm đối chiếu, so
sánh làm rõ hiện trạng và khả năng phát triển của cây dừa Bến Tre.
Qua 2 năm điều tra 990 hộ nông dân tại các tỉnh: Bến
Tre, Cà Mau, Vĩnh Long, Trà Vinh, Tiền Giang, Khánh Hòa, Bình Định, Thanh Hóa,
Đaklak, Bình Phước, Phú Yên đại diện cho vùng trồng dừa, tiêu, điều tập trung và
điều tra 100 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chế biến và lưu thông các sản phẩm dừa
trong tỉnh và một số tỉnh có dừa. Đề tài đã đã làm sáng tỏ hiện trạng và tiềm
năng phát triển cây Dừa Bến Tre trong xu thế hội nhập kinh tế. Hiện nay diện
tích dừa đang thu hoạch ổn định ở Bến Tre là khoảng: 33.249ha với sản lượng
khoảng 249 triệu trái/ năm, tập trung nhiều nhất ở bốn huyện: Mỏ Cày, Giồng
Trôm, Châu Thành và Bình Đại. Dừa Bến Tre nhìn chung có ưu thế: Cơm dày, hàm
lượng chất béo khá cao(50-70%). Ngoài sản phẩm chính là chế biến dầu dừa các
sản phẩm từ dừa khác như: thảm xơ dừa, hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa… đang được
thị trường trong nước và quốc tế ưa chuộng.
Về giống, theo khảo sát dừa trồng tại Bến Tre chia
thành 2 nhóm chính: giống dừa cao và giống dừa lùn; dừa cao có 3 giống chính:
dừa ta chiếm 35% tổng diện tích dừa của tỉnh, dừa dâu chiếm 4% diện tích vườn
dừa của tỉnh, dừa lửa chiếm 2% diện tích vườn dừa của tỉnh; dừa lùn chiếm trên
10% diện tích trồng dừa của tỉnh gồm các giống dừa: dừa xiêm, dừa tam quan, dừa
ẻo… Mật độ trồng khoảng 150-180 cây/ha với giống dừa cao và 200-220 cây đối với
giống dừa lùn. Trong khâu chọn giống, qua khảo sát thực tế 500 hộ trồng dừa
trong tỉnh cho thấy: 89% nông dân chọn giống từ vườn nhà; mua giống từ vườn khác
chiếm 10%; mua giống từ các trung tâm giống chiếm dưới 1%. Về doanh thu, dừa
trồng chuyên canh đạt lợi nhuận bình quân từ 8,5-11,6 triệu đồng/ha/năm; nếu dừa
được trồng xen với các loại cây ăn trái khác như: măng cụt, bưởi, chanh, cam
sành thì hiệu quả sẽ rất cao, doanh thu đạt bình quân từ 26,5-51 triệu/ha/năm,
lợi nhuận bình quân từ 17-41 triệu/ha/năm. Trong khi đó, hiệu quả canh tác của
các loại cây ăn trái khác như điều là cây kinh tế chủ lực của Bình Phước lợi
nhuận bình quân đạt 15 triệu đồng/ha/năm; cây tiêu ở Đaklak lợi nhuận bình quân
đạt 14,5 triệu đồng/ha/năm…; hiện trên toàn tỉnh Bến Tre có trên 30% vườn dừa áp
dụng mô hình thâm canh tổng hợp theo 2 vùng ngọt và vùng lợ; vùng ngọt có mô
hình: dừa kết hợp trồng cây đặc sản và nuôi thủy sản, dừa kết hợp trồng ca cao
và nuôi thủy sản, dừa kết hợp trồng dâu; vùng lợ có các mô hình: dừa kết hợp cây
có múi, dừa kết hợp trồng cỏ nuôi bò…
Trong ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công
nghệ vào sản xuất chế biến dừa, hiện nay hều hết các hộ trồng dừa đều có những
kiến thức cơ bản về trồng và chăm sóc dừa, công tác chuyển giao kỹ thuật: chọn
giống trồng thâm canh của cán bộ kỹ thuật thu hút sự quan tâm của bà con nông
dân trồng dừa. Các doanh nghiệp trong tỉnh từng bước đổi mới công nghệ, đa dạng
hoá sản phẩm, đã đầu tư một số công nghệ sản xuất sản phẩm mới như: dây chuyền
sản xuất cơm dừa nạo sấy công nghệ Malaysia, Srilanka…; dây chuyền sản xuất than
hoạt tính công nghệ của Hàn Quốc; thiết bị quậy và đóng gói kẹo dừa tự động…tạo
ra những sản phẩm có sức cạnh tranh cao, góp phần ổn định và tăng thu nhập cho
người trồng dừa. Ngành công nghiệp chế biến dừa của tỉnh trong thời gian gần đây
phong phú về chủng loại sản phẩm: cơm dừa nạo sấy, chỉ xơ dừa rối, dầu dừa thô,
thảm xơ dừa, than thiêu kết, hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa…số lượng các cơ sở chế
biến dừa khoảng 1.390 cơ sở (2005).
Bên cạnh những tín hiệu kinh tế khả quan, cây dừa
Bến Tre còn phải đương đầu với những thách thức như: năng suất dừa thấp, diện
tích dừa lão hóa ngày càng tăng, tác động của quá trình đô thị hoá, giá dừa lên
xuống thất thường, thông tin giá cả còn hạn chế, cơ chế thu mua giữa doanh
nghiệp và người dân trồng dừa chưa rõ ràng… đặc biệt công nghệ sau thu hoạch và
chế biến dừa ở Bến Tre nhìn chung còn thô sơ chưa tương xứng tiềm năng của vùng
có diện tích dừa lớn nhất cả nước, điều này làm cho giá trị xuất khẩu dừa không
cao. Trước tình hình này, tỉnh đã phê duyệt và triển khai thực hiện phát triển
trồng mới 5.000 ha dừa trong giai đoạn 2005-2010; khuyến khích nông dân thâm
canh, xen canh dừa với các cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao như: ca cao,
măng cụt; đối với ngành công nghiệp chế biến dừa, tiếp tục huy động nguồn nguyên
liệu trong và ngoài tỉnh phục vụ cho công nghiệp chế biến, tăng cường sản xuất
theo công nghệ hiện đại phục vụ nhu cầu xuất khẩu, đặc biệt khuyến khích các
doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư sản xuất các sản phẩm mới như: bột sữa dừa, nước
dừa đóng hộp…
Với những kết quả đạt được, vừa qua đề tài đã được
Hội đồng Khoa học chuyên ngành tỉnh nghiệm thu và đánh giá cao. Từ những khảo
sát, đánh giá thực tế hiện trạng và tiềm năng của cây dừa Bến Tre có thể khẳng
định việc trồng và chế biến dừa có thể phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Cây dừa là cây công nghiệp cần được bổ sung vào danh mục cây
công nghiệp quốc gia để có chính sách đầu tư chung và thích hợp, phát huy hết
những tiềm năng kinh tế - xã hội của cây dừa Bến Tre nói riêng và cả nước nói
chung.
|