Luật
Thanh tra được ban hành đã quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Người ra quyết
định thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra, thành viên của Đoàn thanh tra trong hoạt
động thanh tra. Để cụ thể hoá các qui định của Luật Thanh tra về Đoàn thanh tra,
góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thanh tra, ngày 10 tháng 11 năm 2006,
Tổng thanh tra đã ra Quyết định số 2151/2006/QĐ-TTCP về việc ban hành Quy chế
Đoàn thanh tra. Quy chế gồm 5 chương 32 điều và có các nội dung chủ yếu sau:
1. Về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và
nguyên tắc hoạt động của Đoàn thanh tra.
- Về phạm vi điều chỉnh, Điều 1 của Quy chế xác định
“Quy chế này quy định về tổ chức và hoạt động của Đoàn thanh tra; quan hệ công
tác của Đoàn thanh tra; khen thưởng và xử lý vi phạm đối với Đoàn thanh tra”.
Như vậy, phạm vi điều chỉnh của Quy chế không chỉ nhằm vào hoạt động của Đoàn
thanh tra mà đã mở rộng cả về tổ chức của Đoàn thanh tra, nhằm đề cao trách
nhiệm của các thành viên trong Đoàn thanh tra, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động của Đoàn thanh tra.
- Về đối tượng áp dụng: Theo quy định của Nghị định
số 41/2005/NĐ-CP hoạt động thanh tra chuyên ngành và thanh tra hành chính đều
được thực hiện theo hình thức Đoàn thanh tra, trừ trường hợp hoạt động thanh tra
được tiến hành bởi thanh tra viên chuyên ngành độc lập. Luật Thanh tra và các
văn bản hướng dẫn thi hành cũng không phân biệt Đoàn thanh tra hành chính, Đoàn
thanh tra chuyên ngành với Đoàn thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trên
thực tế tổ chức, hoạt động của Đoàn thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo tương
tự như các Đoàn thanh tra hành chính, Đoàn thanh tra chuyên ngành. Xuất phát từ
đó, Điều 2 của Quy chế quy định đối tượng áp dụng của Quy chế là “Đoàn thanh tra
do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước
thành lập để thực hiện nhiệm vụ thanh tra”.
- Về nguyên tắc hoạt động: Hoạt động của Đoàn thanh
tra phải theo nguyên tắc bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai,
dân chủ, kịp thời; đúng nội dung, đối tượng, thời hạn ghi trong quyết định thanh
tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là
đối tượng thanh tra.
2. Về cơ cấu tổ chức của Đoàn thanh tra
Để đảm bảo thống nhất trong tổ chức của Đoàn thanh
tra, Điều 7 của Quy chế quy định “Đoàn thanh tra có Trưởng đoàn thanh tra và các
thành viên Đoàn thanh tra; trong trường hợp cần thiết, Đoàn thanh tra có Phó
Trưởng đoàn thanh tra”.
Quy chế cũng quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của
Trưởng Đoàn thanh tra và thành viên của Đoàn thanh tra. Theo quy định tại các
Điều 8, 9 thì Trưởng đoàn và các thành viên của Đoàn thanh tra có nhiệm vụ,
quyền hạn theo quy định của Luật Thanh tra và các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Trưởng đoàn có nhiệm vụ tổ chức việc xây dựng kế
hoạch thanh tra, phân công nhiệm vụ cho các thành viên theo yêu cầu, nội dung kế
hoạch thanh tra; trực tiếp chỉ đạo nghiệp vụ thanh tra cho thành viên Đoàn thanh
tra; quyết định các biện pháp xử lý tình huống phát sinh trong quá trình thanh
tra và báo cáo về tiến độ cuộc thanh tra với Người ra quyết định thanh tra.
- Thành viên Đoàn thanh tra có nhiệm vụ lập kế hoạch
thực hiện nhiệm vụ được giao và báo cáo Trưởng đoàn thông qua; chủ động sáng tạo
thực hiện có kết quả nhiệm vụ được giao; tham gia xây dựng báo cáo kết quả thanh
tra và thực hiện các công việc khác liên quan đến cuộc thanh tra khi Trưởng đoàn
giao.
Ngoài ra Quy chế cũng qui định việc thay đổi Trưởng
đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra; bổ sung thành viên Đoàn thanh tra
(Điều 10).
3. Hoạt động của Đoàn thanh tra
3.1. Chuẩn bị thanh tra
Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế của hoạt động thanh tra
và bảo đảm các hoạt động của Đoàn thanh tra trong giai đoạn chuẩn bị tiến hành
thanh tra đạt chất lượng, Quy chế xác định trong giai đoạn chuẩn bị thanh tra,
căn cứ vào yêu cầu, nội dung của cuộc thanh tra, "Trưởng đoàn thanh tra có trách
nhiệm tổ chức việc xây dựng kế hoạch tiến hành thanh tra trình Người ra quyết
định thanh tra phê duyệt. Kế hoạch tiến hành thanh tra phải xác định rõ mục
đích, yêu cầu, nội dung cuộc thanh tra; phương pháp tiến hành thanh tra; tiến độ
thực hiện. Trưởng đoàn thanh tra tổ chức họp Đoàn thanh tra để phổ biến kế hoạch
tiến hành thanh tra, phân công nhiệm vụ cho các thành viên của Đoàn thanh tra;
tổ chức việc tập huấn nghiệp vụ cho thành viên Đoàn thanh tra khi cần thiết"
(Điều 11, 12).
Về việc xây dựng đề cương yêu cầu đối tượng thanh
tra báo cáo, theo Quy chế, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm xây dựng đề
cương căn cứ vào nội dung quyết định thanh tra, kế hoạch tiến hành thanh tra
được Người ra quyết định thanh tra phê duyệt. Đề cương yêu cầu đối tượng thanh
tra báo cáo phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ nội dung, thời gian, hình thức
báo cáo và những vấn đề khác liên quan. Đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo
cáo phải được gửi cho đối tượng thanh tra trước khi công bố quyết định thanh
tra.
3.2. Tiến hành thanh tra
Trong giai đoạn tiến
hành thanh tra, Quy chế quy định Đoàn thanh tra tiến hành các công việc như:
công bố quyết định thanh tra; yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo; thu thập,
kiểm tra, xác minh thông tin tài liệu; nhật ký hoạt động của Đoàn thanh tra;
việc sửa đổi, bổ sung kế hoạch thanh tra v.v…
Theo quy định tại Điều 14 của Quy chế “1. Chậm nhất
là 15 ngày kể từ ngày ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách
nhiệm công bố quyết định thanh tra với cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng
thanh tra. Trước khi công bố quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra thông
báo với đối tượng thanh tra về thời gian, thành phần tham dự, địa điểm công bố
quyết định.
2. Thành phần tham dự buổi công bố quyết định thanh
tra gồm có Đoàn thanh tra, Thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là đối tượng
thanh tra. Trong trường hợp cần thiết có thể mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan tham dự.
3. Khi công bố quyết định thanh tra, Trưởng đoàn
thanh tra đọc toàn văn quyết định thanh tra, nêu rõ quyền và nghĩa vụ của đối
tượng thanh tra; thông báo chương trình làm việc giữa Đoàn thanh tra với đối
tượng thanh tra và những công việc khác có liên quan đến hoạt động của Đoàn
thanh tra.
4. Việc công bố quyết định thanh tra phải được lập
thành biên bản”.
Đối với việc thu nhận báo cáo của đối tượng thanh
tra, nghe đối tượng thanh tra báo cáo, “Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm thu
nhận văn bản báo cáo của đối tượng thanh tra làm cơ sở cho việc tiến hành thanh
tra. Trong trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn thanh tra tổ chức cho Đoàn thanh
tra nghe đại diện Thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là đối tượng thanh
tra báo cáo về những nội dung thanh tra theo đề cương đã yêu cầu” (Điều 15).
Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra áp
dụng các biện pháp theo thẩm quyền để thu thập các thông tin, tài liệu liên quan
đến nội dung thanh tra. Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra có
trách nhiệm nghiên cứu, phân tích, đánh giá các thông tin tài liệu đã thu thập
được; tiến hành kiểm tra, xác minh các thông tin tài liệu đó khi cần thiết làm
cơ sở để kết luận các nội dung thanh tra. Việc kiểm tra, xác minh thông tin, tài
liệu liên quan đến nội dung thanh tra phải lập thành biên bản (Điều 16).
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Đoàn thanh tra,
Quy chế này đã quy định về việc ghi nhật ký hoạt động của Đoàn thanh tra. Trong
đó nêu rõ “1. Nhật ký Đoàn thanh tra là sổ ghi chép những hoạt động của Đoàn
thanh tra, những nội dung có liên quan đến hoạt động của Đoàn thanh tra diễn ra
trong ngày, từ khi có quyết định thanh tra đến khi bàn giao hồ sơ thanh tra cho
cơ quan có thẩm quyền.
2. Nhật ký Đoàn thanh tra phải ghi rõ công việc do
Đoàn thanh tra tiến hành, việc chỉ đạo, điều hành của Trưởng đoàn thanh tra diễn
ra trong ngày. Trong trường hợp có ý kiến chỉ đạo của Người ra quyết định thanh
tra, có những vấn đề phát sinh liên quan đến hoạt động của Đoàn thanh tra trong
ngày thì phải ghi rõ trong nhật ký Đoàn thanh tra.
3. Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm lập, ghi
chép đầy đủ những nội dung quy định tại Khoản 2 Điều này vào nhật ký Đoàn thanh
tra và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Người ra quyết định thanh
tra về tính chính xác, trung thực của nội dung nhật ký Đoàn thanh tra.
4. Việc ghi nhật ký Đoàn thanh tra được thực hiện
theo mẫu do Tổng thanh tra quy định và được lưu trong hồ sơ cuộc thanh tra (Điều
18).
Ngoài những vấn đề trên, Quy chế cũng quy định việc
báo cáo tiến độ thực hiện nhiệm vụ thanh tra, việc sửa đổi, bổ sung kế hoạch
thanh tra tại Điều 17 và Điều 19, 20.
3.3. Kết thúc thanh tra
Theo Quy chế thì kết thúc việc thanh tra, Trưởng
đoàn thanh tra phải thông báo cho Thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là
đối tượng thanh tra biết việc kết thúc thanh tra tại nơi được thanh tra. Trưởng
đoàn thanh tra có trách nhiệm tổ chức tổng hợp kết quả thanh tra, xây dựng dự
thảo Báo cáo kết quả thanh tra, lấy ý kiến của các thành viên vào dự thảo Báo
cáo trước khi báo cáo Người ra quyết định thanh tra. Quá trình xây dựng dự thảo
Báo cáo, nếu có ý kiến khác nhau về nội dung của dự thảo Báo cáo kết quả thanh
tra thì Trưởng đoàn quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình (Điều
21, 22). Về nội dung của Báo cáo kết quả thanh tra, Điều 23 của Quy chế qui định
như sau:
“1. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày kết thúc việc
thanh tra tại nơi được thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra phải có văn bản báo cáo
kết quả thanh tra. Báo cáo kết quả thanh tra phải có các nội dung sau đây:
a) Kết luận cụ thể về từng nội dung đã tiến hành
thanh tra;
b) Xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên
nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm (nếu có);
c) Ý kiến khác nhau giữa thành viên Đoàn thanh tra
với Trưởng đoàn thanh tra về nội dung báo cáo kết quả thanh tra (nếu có);
d) Các biện pháp xử lý theo thẩm quyền đó được áp
dụng; kiến nghị biện pháp xử lý;
2. Trong trường hợp phát hiện có hành vi tham nhũng
thì trong báo cáo kết quả thanh tra phải nêu rõ trách nhiệm của người đứng đầu
cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng theo các mức độ sau đây:
a) Yếu kém về năng lực quản lý;
b) Thiếu trách nhiệm trong quản lý;
c) Bao che cho người có hành vi tham nhũng.
3. Trong báo cáo kết quả thanh tra phải nêu rõ các
quy định pháp luật làm căn cứ để xác định tính chất, mức độ vi phạm, kiến nghị
biện pháp xử lý.
4. Báo cáo kết quả thanh tra được gửi tới Người ra
quyết định thanh tra. Trong trường hợp Người ra quyết định thanh tra là Thủ
trưởng cơ quan quản lý nhà nước thì báo cáo kết quả thanh tra cũng được gửi cho
Thủ trưởng cơ quan thanh tra cùng cấp”.
Khi được giao dự thảo Kết luận thanh tra, Trưởng
đoàn thanh tra có trách nhiệm tổ chức xây dựng dự thảo kết luận. Dự thảo Kết
luận thanh tra được xây dựng trên cơ sở Báo cáo kết quả thanh tra và chỉ đạo của
Người ra quyết định thanh tra. Trong trường hợp Người ra quyết định thanh tra
gửi dự thảo Kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra và đối tượng thanh tra có
văn bản giải trình thì Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm nghiên cứu và đề
xuất với Người ra quyết định thanh tra hướng xử lý nội dung giải trình của đối
tượng thanh tra. Dự thảo Kết luận thanh tra phải có các nội dung chính sau đây:
a) Đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật,
nhiệm vụ của đối tượng thanh tra thuộc nội dung thanh tra;
b) Kết luận về nội dung được thanh tra;
c) Xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên
nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm (nếu có);
d) Các biện pháp xử lý theo thẩm quyền đó được áp
dụng; kiến nghị các biện pháp xử lý (Điều 24);
ở giai đoạn này, Quy chế cũng quy định về việc công
bố kết luận thanh tra; việc rút kinh nghiệm về hoạt động của Đoàn thanh tra và
việc lập, bàn giao hồ sơ thanh tra.
Ngoài ra, Quy chế cũng quy định cụ thể về quan hệ
công tác của Đoàn thanh tra, việc khen thưởng, xử lý vi phạm trong hoạt động
thanh tra.
Theo tạp chí Thanh
tra |