Trang chủ \ Chuyên mục \ Ứng dụng KH&CN \ Một số nguyên tắc trong cách pha thuốc bảo vệ thực vật
 
Một số nguyên tắc trong cách pha thuốc bảo vệ thực vật In Email
Thứ năm, 14/7/2011 08:01

Trong tập quán canh tác của người nông dân hiện nay, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật rất phổ biến và như là một phần tất yếu. Mặc dù người nông dân vẫn biết tác hại của thuốc đến môi trường và sức khỏe. Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm đặt ra yêu cầu cho người nông dân phải sử dụng thuốc an toàn và hiệu quả. Sau đây là một số nguyên tắc về cách pha chế thuốc bảo vệ thực vật giúp người dân hiểu rõ hơn để áp dụng trong sản xuất:

 

 

Một số loại thuốc bảo vệ thực vật. Ảnh: baokhanhhoa.com.vn

1. Chế phẩm ở thể rắn khi dùng không cần hòa với nước:

 

Thuốc hạt (thuốc hột): Ký hiệu H, G, Gr.

Thuốc ở thể rắn, có kích thước như hạt cát, hạt gạo. Kích thước các hạt của một loại chế phẩm thường tương đối đồng đều. Màu sắc thay đổi tùy thuộc loại thuốc, rất nhiều loại thuốc hạt dùng chất tải (chất độn) là các hạt cát thô có cỡ tương đối đồng đều được bao bên ngoài một lớp thuốc kỹ thuật theo tỷ lệ định trước.

 

 Hàm lượng hoạt chất trong thuốc hạt thường không cao (khoảng 10%). Ví dụ Mocap 10G, Diaphos (Diazinon) 10H.

 

Thuốc hạt được dùng để rải vào đất (không hòa nước, không cần trộn thêm vôi, tro, đất bột) theo liều lượng do nhà sản xuất quy định để trừ sâu, trừ bệnh, cỏ dại…

 

Thuốc bột rắc: Ký hiệu là BR, D.

Thuốc ở thể rắn, hạt mịn, màu sắc thay đổi tùy loại thuốc. Hàm lượng hoạt chất trong thuốc bột rắc thường không cao (5-10%). Thuốc được dùng phun lên cây, phun lên mặt đất hoặc trộn với hạt giống (không hòa với nước).

 

Ví dụ: Thuốc trừ sâu Sumithion 5D (Fenitronthion).

Thuốc bột rắc ngày nay ít được sử dụng trong sản xuất do có một số nhược điểm: Khi phun trên đồng ruộng thuốc dễ bị gió cuốn đi xa, dễ bị mưa làm rửa trôi.

 

2. Chế phẩm ở thể rắn phải hòa với nước trước khi dùng: 

Thuốc hạt phân tán trong nước: Ký hiệu là WDG, WG.

Thuốc ở thể rắn, dạng hạt thô, màu sắc thay đổi tùy loại thuốc, được hòa với nước để cho vào bình bơm phun lên cây. Khi hòa với nước, hạt thuốc rã ra và phân tán đều trong nước như một huyền phù. Ưu điểm của dạng thuốc này là khi cân, đong thuốc không bị bụi như thuốc bột thấm nước, do vậy mà giảm được khả năng gây độc của thuốc BVTV đối với người sử dụng. Khi đã hòa tan với nước, thuốc có đặc điểm giống như thuốc bột thấm nước.


Ví dụ: Thuốc trừ sâu Xentari 35 WDG, Bacilllus thuringensis var. Kurtaki, thuốc trừ cỏ Rovral 500 WG.

 

Thuốc bột thấm nước: Ký hiệu là BTN, WP, DF.

Thuốc ở thể rắn, hạt mịn, màu sắc thay đổi tùy loại thuốc. Được hòa với nước để phun lên cây. Khi hòa với nước hạt thuốc sẽ lơ lửng trong nước tạo ra một huyền phù, có màu hơi đục hoặc trắng tùy theo màu của thuốc ở dạng bột.


Ví dụ : Thuốc Applaud 10 WP, New Kasuran 16,6BTN.

 

Thuốc bột tan trong nước: Ký hiệu là SP,WSP.


Thuốc ở thể rắn, hạt mịn, màu sắc thay đổi tùy loại thuốc. Được hòa với nước để phun lên cây. Khi hòa với nước, thuốc tan hoàn toàn trong nước, không còn thấy những hạt thuốc lơ lửng trong nước như trường hợp thuốc bột thấm nước.


Ví dụ: Thuốc trừ sâu Padan 95SP.

 

3. Chế phẩm ở thể lỏng khi dùng không hòa loãng với nước:

- Thuốc ULV:

Thuốc ở dạng lỏng, bao gồm hoạt chất được hòa tan trong một dung môi đặc biệt và có thêm các chất phụ gia khác. Thuốc trong suốt và có màu thay đổi tùy loại thuốc. Thuốc ULV dùng không phải hòa loãng với nước và phải được phun bằng một loại máy bơm đặc biệt. Lượng thuốc dùng cho mỗi ha cây trồng thường rất thấp, khoảng 1 lít/ha.


Dạng thuốc này chỉ mới được sử dụng để phòng trừ sâu hại cải, bông vải, chưa phổ biến rộng trong sản xuất.


Ví dụ: Thuốc trừ sâu Vectron 7.5 ULV (Ethofenprox),  Diazinon 96 % ULV .

 

4. Chế phẩm ở thể lỏng khi dùng phải hòa với nước:


- Thuốc nhũ dầu (còn gọi là thuốc sữa): Ký hiệu là ND, EC.

Thuốc ở dạng lỏng, trong suốt, màu sắc thay đổi tùy loại thuốc, được hòa loãng với nước để phun lên cây. Khi mới hòa với một lượng nhỏ nước, nước thuốc có màu trắng tựa như sữa. Thêm nước vào, màu trắng đục sẽ nhạt dần. Lấy một giọt nước thuốc quan sát dưới kính phóng đại sẽ dễ dàng nhận thấy trong giọt nước thuốc có chứa rất nhiều giọt thuốc nhỏ li ti và phân bố đều trong giọt nước.

         
Ví dụ: Thuốc trừ sâu Bassa 50ND, thuốc trừ nấm Bayfidan 25EC…

 

- Thuốc dạng dung dịch: Ký hiệu DD, SC, AS, SL…


Thuốc ở dạng lỏng, trong suốt, có màu sắc thay đổi tùy loại thuốc. Thuốc được hòa loãng để phun lên cây. Trường hợp này, hoạt chất-thuốc kỹ thuật-tan hoàn toàn trong nước nên dung dịch này khi chưa pha thuốc với nước hoặc sau khi đã hòa loãng với nước tạo ra những chất lỏng đồng nhất và trong suốt.


Ví dụ: Thuốc trừ nấm Kasumin 2L, thuốc trừ sâu Tiginon (Nereistoxin) 18DD.

Thuốc dạng huyền phù: Ký hiệu là HP, F, FL, AP.

Thuốc ở dạng lỏng, sánh. Thường có màu trắng đục hoặc một số màu khác tùy theo loại thuốc, ở trong bao bì thuốc dễ bị lắng, do vậy phải lắc cho hòa đều trước khi rót đong thuốc. Trong chế phẩm này, hoạt chất ở thể rắn, được hòa tan trong các phụ gia ở thể lỏng. Khi hòa vào nước để phun lên cây sẽ tạo thành một huyền phù có các hạt rất mịn lơ lửng đều trong nước.

 

Ví dụ: Thuốc trừ sâu Ekalux 20AF, thuốc trừ nấm Carbendazim 500FL.

 

Khi cần thiết trộn chung các loại thuốc bảo vệ thực vật chúng ta cần phải thực hiện các nguyên tắc sau:


 - Khi phối trộn cần để ý các ký tự biểu hiện cho dạng thuốc như sau:

Cách phối trộn thuốc theo thứ tự các ký hiệu như sau:


W(B)→D→A(H,F)→L→E(N)→S→R→ADJ
         

Chú ý: Không được pha ngược lại các ký tự sẽ làm kết tủa hoặc mất tác dụng của thuốc.

 

Ví dụ: Khi muốn pha Dithane 47WP và Anvil5SC thì ta cần cho thuốc Dithan 47WP vào bình có chứa nước trước sau đó khuấy đều và đổ thuốc Anvil 5SC vào sau. Nếu làm ngược lại sẽ mất tác dụng của thuốc.

Thanh Thúy

 
 

Thông Tin Đối tác

MayNongNghiep